Chào mừng các bạn đến với cổng thông tin điện tử Huyện Phước Sơn!
DANH NHÂN TUỔI HỢI XỨ QUẢNG
Người đăng: Trương Công Minh 0903.555.285 .Ngày đăng: 18/01/2019 .Lượt xem: 180 lượt.
Theo quan niệm của người xưa, những người tuổi Hợi rất lành tính, chất phác, thích một cuộc sống an nhàn, sung túc. Họ cũng là người tốt bụng, thân thiện và quý trọng các mối quan hệ gia đình, đồng nghiệp lẫn bạn bè.

Những danh nhân tuổi Hợi thường khoan dung, độ lượng với lỗi lầm của người khác nên dễ bề giữ được các mối quan hệ tốt đẹp. Họ cũng là người hết lòng vì người khác, vì gia đình, không mấy khi tính toán thiệt hơn mà luôn chủ động, tự nguyện giúp đỡ mọi người khi gặp khó khăn... Nhân dịp năm Kỷ Hợi 2019, xin giới thiệu khái quát về tiểu sử của hai danh nhân tuổi Hợi nổi tiếng của xứ Quảng:

Chí sĩ Trần Văn Dư - sinh năm Kỷ Hợi 1839


Trần Văn Dư (hay còn gọi là Trần Dư) hiệu là Hoán Nhược, người làng An Mỹ Tây, huyện Hà Đông, nay là thôn An Thọ, xã Tam An, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Ông sinh ngày 31/12/1839, tức ngày 15/11 năm Kỷ Hợi (1839) trong một gia đình khoa bảng. Năm 19 tuổi (1858), ông đỗ Tú tài, năm 1868 vừa tròn 28 tuổi, ông đỗ Cử nhân. Sau khi đỗ trường III ở kỳ thi Hội (1872), ông được bổ nhiệm chức Sơ khảo ở trường thi Bình Định, rồi Hành Tẩu Viện Cơ Mật. Vào kỳ thi Hội năm Ất Hợi (1875), ông trúng tuyển và được sắc phong Đệ Tam giáp đồng Tiến sĩ. Năm Tự Đức thứ 29(1876), ông được bổ nhiệm Tri phủ Ninh Giang, rồi Tri phủ Quảng Oai (1878). Năm 1880, ông được thăng Hàn Lâm Viện Thị Độc dạy học cho Vua Tự Đức và Đồng Khánh, rồi sung Dục Đức Đường Giảng tập, Chánh Mông Đường Tán thiện, bổ Án Sát Sứ đạo An Tịnh ( 1882), cải thụ Biện Lý Bộ Lại, Hồng Lô Tự Khanh, phong Trung Thuận Đại phu, Thương Bạc Sự Vụ (1883) rồi giữ chức Sơn Phòng Sứ Quảng Nam (1884).

          Vào thời điểm 1884-1885, triều đình nhà Nguyễn ngày càng tỏ ra bất lực trước bọn giặc ngoại xâm, đã lần lượt cắt đất dâng cho thực dân Pháp, Trung Kỳ trở thành đất “ Bảo hộ” của thực dân; mặt khác  một số bọn quan lại Nam triều lại tâm can làm tay sai cho giặc, quay sang đàn áp các phong trào kháng Pháp của nhân dân ta. Đứng trước tình cảnh ấy, tuy được triều đình tin dùng, nhưng vì lòng yêu nước, ông sẵn sàng xả thân vì đại nghĩa cùng với nhân dân đứng lên kháng Pháp. Ông đã dâng sớ xin tu sửa và chỉnh đốn hệ thống các nha Sơn phòng Dương Yên từ tháng 7 năm 1884. Khi Vua Hàm Nghi xướng hịch Cần Vương, Trần Văn Dư liền ứng nghĩa, cùng với các Phó bảng Nguyễn Duy Hiệu, Cử nhân Phan Bá Phiến,  ấm sanh Tiểu La Nguyễn Thành... kết đảng làm nghĩa hội.

          Lúc này, triều đình Huế đã thấy được vị trí quan trọng của Sơn phòng Dương Yên ở Quảng Nam, cũng như uy tín của Trần Văn Dư đối với nhân dân trong vùng có thể gây trở ngại cho triều đình, quan quân triều Nguyễn muốn dùng kế “Điệu hổ ly sơn” đối với Trần Văn Dư để chia rẽ nội bộ Nghĩa hội, tạo điều kiện thuận lợi dễ dàng  trong việc đàn áp và chiếm đóng các vùng ở phía Nam. Nguyễn Văn Tường đã mượn chỉ dụ của Từ Dũ Thái hậu, bổ nhiệm Nguyễn Đình Tựu vào thay thế Trần Văn Dư, điều ông vào làm Bố Chánh tỉnh Quảng Ngãi. Trần Văn Dư đã thấy rõ việc hoán đổi vị trí là dã tâm của bọn tay sai Nam triều. Thế là ông từ bỏ con đường quan lại, cùng với các sĩ phu yêu nước trong tỉnh, tập hợp lực lượng quyết tâm đứng lên chống Pháp.

          Tháng 7 năm 1885, Trần Văn Dư chắp bút ra bản cáo thị, kêu gọi các tầng lớp nhân dân cùng các sĩ phu yêu nước đứng lên chống giặc ngoại xâm. Hưởng ứng lời kêu gọi này, lực lượng nghĩa quân tập hợp lại ngày càng đông. Ngày 04 tháng 09 năm 1885, một cuộc tiến công thần tốc với sự phối hợp của nhiều cánh quân tiến đánh thành tỉnh La Qua. Sau khi chiếm được thành tỉnh, Trần Văn Dư với những người lãnh đạo phong trào quyết định mở kho lương thực phát chuẩn cho dân nghèo nhằm giúp họ vượt qua những khó khăn, thiếu thốn. Đối với binh lính triều đình, ai muốn về quê sinh sống thì Nghĩa hội cho được tự do, những ai muốn cùng Nghĩa hội tham gia chiến đấu chống lại thực dân thì đưa họ vào của đội quân của nghĩa binh, hằng ngỳa luyện tập võ nghệ, binh đao để tham gia chiến đấu chống Pháp. Về mặt chính trị-xã hội, Trần Văn Dư đã cho thiết lập bộ máy hành chính từ xã, tổng đến huyện.

           Ngày 25/9/1885, quân đội viễn chinh Pháp dưới sự chỉ huy của tướng Schanits và linh mục Maillard, với trang bị đầy đủ các phương tiện chiến tranh mở cuộc tấn công hòng chiếm lại thành tỉnh La Qua. Quân Pháp tiến quân theo hai hướng chính: đường thuỷ từ Huế, Đà Nẵng vào cửa biển Hội An và đường bộ theo hướng quốc lộ vào Bắc Vĩnh Điện ồ ạt tấn công đánh chiếm thành tỉnh. Trước tình hình ấy, Tiến sĩ Trần Văn Dư  cùng Phó bảng Nguyễn Duy Hiệu quyết định rút đại bộ phận về căn cứ Sơn phòng Dương Yên để bảo toàn lực lượng, phục vụ cho một cuộc chiến đấu lâu dài.

          Tháng 11 năm 1885 (Ất Dậu), quân Pháp đã huy động một lực lượng hùng hậu cả về quân số và vũ khí và phương tiện chiến tranh cùng với quân Nam triều Đồng Khánh tiến đánh Sơn phòng Dương Yên. Nghĩa quân Nghĩa hội dưới sự chỉ huy của Trần Văn Dư đã lập nhiều phòng tuyến chống trả, chặn đường tiến quân của quân Pháp như Luỹ Đá Rồng, Truông Mua, Suối Đá... gây cho quân Pháp nhiều tổn thất  nặng nề. Thế nhưng, do phải chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn mọi bề: lực lượng, vũ khí, lương thực...  sau một thời gian chống trả, cầm cự một cách anh dũng, kiên cường, nghĩa quân của Nghĩa hội đã bị thất thủ. Tiến sĩ Trần Văn Dư không may bị giặc Pháp bắt và cúng tìm mọi cách để khai thác tin tức hoạt động của nghĩa binh cũng như dùng mọi biện pháp mua chuộc dụ dỗ ông đầu hàng và cộng tác với bọn chúng; nhưng với một con người có lòng chính nghĩa và tinh thần kiên định như ông thì không có gì có thể lay chuyển nổi. Biết không làm gì được, ngày mồng 8 tháng 11 năm Ất Dậu (ngày 13 tháng 12 năm 1885), giặc Pháp ra lệnh cho quan đầu tỉnh đem ông ra xử chém.

Chí sĩ Nguyễn Thành - sinh năm Quý Hợi 1863

Nguyễn Thành còn có tên là Nguyễn Hàm, tự là Triết Phu, hiệu là Nam Thịnh rồi Tiểu La. Ông sinh năm 1863 (năm Quí Hợi ) tại làng Thạnh Mỹ, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Thuở nhỏ Nguyễn Thành nổi tiếng thông minh, hiếu học, chú tâm luyện võ nghệ, nghiên cứu binh thư và các sách về lịch sử, địa lý nên sớm trở thành một người am hiểu nhiều lĩnh vực.

          Nguyễn Thành mồ côi cha lúc 8 tuổi. Năm 14 tuổi ông đích thân di dời hài cốt cha từ Bình Định về quê. Năm 22 tuổi (1885), ông ra Huế dự kỳ thi Hội, gặp vận nước gian nguy, kinh thành Huế thất thủ, Vua Hàm Nghi xuất Bon, xướng hịch Cần Vương. Tạm gác bút ngiêng, ông về quê tham gia Nghĩa Hội Quảng Nam. Dù chỉ là 1 ấm sinh nhưng các lãnh tụ Nghĩa hội vẫn xem trọng tài năng của ông và tin tuởng giao cho ông chức Tán Tương Quân Vụ, kiêm Tham Biện Tỉnh Vụ. Ông đã tham mưu đắc lực trong lĩnh vực tổ chức, điều hành Nghĩa hội và là một trong những chiến tướng bất bại khi đối đầu với thực dân, tay sai, khiến tên Nguyễn Thân nhiều mưu mô xảo quyệt đã phải nhận định “ Nam Ngãi tri binh, duy Thành nhất nhơn”.(Tạm dịch: "Trong Nghĩa hội Nam-Ngãi, chỉ có Nguyễn Thành là người biết dụng binh")

          Cuối năm 1887, Nghĩa Hội Quảng Nam tan rã, các yếu nhân kẻ bị bắt, người rơi vào vòng tù tội, Nguyễn Thành cũng bị bắt giam một thời gian rồi cho về quản thúc tại địa phương. Từ năm 1887-1903, Nguyễn Thành về quê ở ẩn và chuyên đọc sách, răn bảo mọi người làm những điều lành, có ích, có đức, đặc biệt ông quan tâm đến những người nghèo khó, thân cô thế cô... Và cũng trong thời gian này, ông lập Nam Thành Sơn Trang để sản xuất và ẩn thân chờ thời cơ. Tại Sơn Trang, ông đã gặp gỡ và kết giao với nhiều anh hùng hào kiệt, nhằm chuẩn bị cho những việc lớn sau này.

          Cuối năm 1903, Phan Bội Châu - người đổ giải Nguyên của xứ Nghệ, một con người ưu tú đã tìm thấy ở Nguyễn Thành tình đồng chí, đồng hành, đồng mưu sự cho đất nước ( đồng chí hướng ) và hai ông nhanh chóng đi đến thống nhất ra đời Duy Tân Hội vào năm 1904. Duy Tân Hội là một tổ chức yêu nước, chủ trương bạo động nhằm mục đích cứu nước. Thế là cuộc vận động Duy Tân Hội được vận động và triển khai khắp nơi, được mọi tầng lớp nhân dân trong và ngoài tỉnh nhiệt tình hưởng ứng. Các bước vận động của Duy Tân Hội được Nguyễn Thành khái quát như sau : “Thu phục nhân tâm (tôn quân) - đóng góp kinh phí - mua sắm vũ khí và cầu ngoại viện”. Từ những ý tưởng đó, Nguyễn Thành và Phan Bội Châu hăng hái bắt tay vào công việc cứu nước.

          Cuộc vận động Duy Tân Hội bước đầu đạt kết quả tốt, nhanh chóng thể hiện rõ qua việc phát triển phong trào Đông Du. Nhờ phong trào này mà đã có hàng trăm du học sinh Việt Nam sang Nhật. Cuộc vận động Duy Tân Hội không chỉ kích được lòng dân mà còn thấy rõ thực lực của một đội ngũ yêu nước tuyệt vời, đã cống hiến tài năng, tiền của cho phong trào; trong đó phải kể đến Nguyễn Thành, Tăng Bạt Hổ, Châu Thượng Văn, Thái Phiên...

          Năm 1908, Quảng Nam là nơi phát khởi phong trào chống thuế, cự sưu, có lúc có nơi đã vượt quá giới hạn đó là các cuộc biểu tình vào cơ quan đầu não của địch, vây bức buộc quan huyện phải từ chức hoặc phải theo ý dân. Bọn thực dân tập trung đàn áp phong trào, nhiều yếu nhân phong trào bị bắt, bị tù đày. Nguyễn Thành cũng bị bắt ở Bình Định trong lúc đang làm nhiệm vụ. Ông bị kết án 9 năm tù và bị đày đi Côn Đảo. Trong tù Nguyễn Thành là người lạc quan, hơn nữa ông luôn vận động mọi người sống lạc quan, tin tưởng ở ngày mai tươi sáng. Khi hay tin Nhật cấu kết với Pháp trục xuất Phan Bội Châu và du học sinh Việt Nam, ông nói : “ Thời cuộc xoay vần, cơ hội tốt sẽ đến, dòng máu Đông Á sau này còn nhiều cuộc biến đổi, anh em gắng lên”... Ông mất vào ngày 11 tháng 11 năm 1911 do chế độ của nhà tù quá hà khắc.

                   

Người gửi: Mai Hồng Lâm (SĐT: 0905.420553)

Địa chỉ: BQL Quần thể Tượng đài Mẹ VNAH

(Thôn Phú Thạnh, xã Tam Phú, Tam Kỳ, Quảng Nam)

[Trở về]
Các tin cũ hơn:
Thơ trào phúng : Loanh quanh chữ “Vàng”
Em gái Bhnoong - Huỳnh Đức Trung
Sắc Xuân (Thơ Lê Lam Giang)
Chí làm trai (Thơ Huỳnh Đức Trung)
Khâm Đức xuân về (Thơ Huỳnh Đức Trung)
Suy ngẫm cuộc đời (Thơ Colchichine)
Tết quê (Hoàng Chương)
Xuân về "Nghe em hát còn duyên" (Hoàng Chương)
Đọc Gia huấn ca, suy ngẫm về giáo dục con cái hiện nay (Hoàng Chương)
Nghĩa tình Phước Sơn (Thơ Lê Lam Giang)
    
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10