Chào mừng các bạn đến với cổng thông tin điện tử Huyện Phước Sơn!
KỶ NIỆM 45 NĂM CHIẾN THẮNG KHÂM ĐỨC - NGOK-TA-VAT
Người đăng: Trương Công Minh 0903.555.285 .Ngày đăng: 11/03/2013 .Lượt xem: 3581 lượt.

ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN

 KỶ NIỆM 45 NĂM CHIẾN THẮNG KHÂM ĐỨC - NGOK-TA-VAT

(12/5/1968 - 12/5/2013)

--------------

                                                 

          I. SỰ CHỈ ĐẠO CỦA KHU ỦY, BỘ TƯ LỆNH QUÂN KHU 5 VÀ TỈNH ỦY QUẢNG NAM TRONG CHIẾN DỊCH HÈ NĂM 1968 (KẾ HOẠCH X1)

          Thắng lợi của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, năm 1968 của quân và dân ta đã làm thất bại "Chiến lược chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ, buộc Tổng thống Mỹ Giôn-Xơn phải tuyên bố "ném bom hạn chế miến Bắc", từng bước "phi Mỹ hóa cuộc chiến tranh", giảm dần sự dính líu trên bộ của quân Mỹ ở miền Nam và chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán Paris. Song mặt khác Mỹ, ngụy lại đẩy mạnh chiến dịch "quét và giữ" giành lại quyền kiểm soát những vùng ta vừa giải phóng. Đồng thời lập vành đai trắng bằng "Hàng rào điện tử Mắc Namara", mở các chiến dịch quân sự đánh phá ác liệt vào vùng hậu cứ và các vùng nông thôn, miền núi, gây rất nhiều khó khăn, tổn thất cho ta.

          Trước tình hình đó, ngày 24 tháng 4 năm 1968, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp nhận định về Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, năm 1968 và tiếp tục đề ra phương hướng, nhiệm vụ đẩy mạnh Tổng tiến công và nổi dậy mùa Hè năm 1968 (Kế hoạch X1): Tấn công, đánh mạnh vào ngụy quân, ngụy quyền tay sai, tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân Mỹ, tạo điều kiện thuận lợi cho quần chúng nhân dân làm chủ, đồng thời thiết lập và củng cố chính quyền cách mạng trên toàn bộ nông thôn miền Nam...

          Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, Khu ủy 5, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 và Tỉnh ủy Quảng Nam đề ra nhiệm vụ chiến dịch Hè năm 1968 trên toàn khu 5, và tỉnh Quảng Nam nói riêng, trọng tâm là: Tập tập trung lực lượng tổ chức tấn công mạnh mẽ vào các sào huyệt của Mỹ, ngụy trên khắp các thành phố, thị xã, thị trấn, quận lỵ trên địa bàn toàn khu 5. Riêng trên chiến trường Quảng Nam, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 quyết định chuyển vành đai diệt Mỹ Chu Lai thành Mặt trận Chu Lai đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy Quảng Nam và sự chỉ đạo, chỉ huy của quân khu và tỉnh đội Quảng Nam.

          Để giành thắng lợi "Kế hoạch X1" ngay trận đầu, ngày 05 tháng 5 năm 1968, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 quyết định mở chiến dịch bao vây Chi khu Thượng Đức, căng kéo lực lượng cơ động của Mỹ, ngụy, tạo thuận lợi để lực lượng ta thọc sâu vào Đà Nẵng, Hội An, Tam Kỳ tiêu diệt sinh lực địch. Riêng miền núi Quảng Nam, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 2 Quân khu 5 (QK5) phối hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương mở chiến dịch tấn công địch ở Núi Ngang (Tiên Phước); xóa sổ trận địa pháo của Mỹ tại Núi Miếu, núi Ông Sầm; vây ép cứ điểm Phước Lâm; tiến công tiêu diệt Cụm cứ điểm quân sự Khâm Đức - Ngok-Ta-Vat; khai thông hành lang chiến lược Bắc - Nam và Đông - Tây qua địa bàn huyện, tạo thời cơ tiếp tục đẩy mạnh chiến dịch Thu năm 1968 (Kế hoạch X2), giành thế chủ động trên khắp chiến trường khu 5, Tiến công và nổi dậy, đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.

          II. TÌNH HÌNH CHIẾN TRƯỜNG KHÂM ĐỨC - NGOK-TA-VAT

          1. Khâm Đức - Ngok-Ta-Vat, tiền đồn biên phòng của Mỹ, ngụy

          Là một thung lũng bằng phẳng nằm lặng lẽ trên triền Đông của dãy Trường Sơn hùng vĩ, rộng chừng 500 ha, độ cao trung bình trên 400 mét so với mặt biển, bao bọc nhiều núi cao từ 800 - 1.000 mét, dài trên 3 Km, rộng trên 1,5 Km, cách thành phố Đà Nẵng 135 Km về hướng Tây Nam, cách thành phố Tam Kỳ 120 Km về hướng Tây Bắc. Phía Nam giáp suối Nước Chè, bên kia là rừng già 48 có điểm cao 676 (Tà Dê), chệch hướng Tây Nam có điểm cao 738 (Ngok-Ta-Vat); phía Đông giáp suối Nước Trẻo và sông Đăk My; phía Tây là những dãy núi cao, có đường 14[1] từ Hòa Cầm lên Đại Lộc, Thượng Đức, Nam Giang, ngược dòng Đăk My đến ngã ba Làng Hồi, băng qua thung lũng Khâm Đức, lên Tây Nguyên nối với các tỉnh miền Đông Nam Bộ.

          Sau năm 1954, để tăng cường kiểm soát lên miền núi, Mỹ, ngụy thiết lập một hệ thống đồn, bót từ Bắc Hòa Vang lên Trung Mang, Bến Hiên, Thượng Đức, Bến Giằng, Khâm Đức, Tân An, Phước Lâm, Trà Đốc tạo thành vòng cung phòng thủ từ Hòa Vang đến Tam Kỳ và bố trí một lực lượng quân trấn giữ, gồm: 3 trung đoàn bộ binh, 5 tiểu đoàn đặc nhiệm, 18 tiểu đoàn bảo an, 75 tổng đoàn nghĩa quân và 12 đại đội dân vệ với mục đích ngăn chặn phong trào giải phóng phát triển xuống đồng bằng. Ngày 24 tháng 6 năm 1958, chính quyền Sài Gòn ra Nghị định số 335-NĐ/CP, thành lập quận Phước Sơn[2]. Năm 1961, cho xây dựng sân bay Khâm Đức[3] để cơ động, ứng cứu giữa các cứ điểm trong vùng và Hạ Lào. Năm 1963, Mỹ thiết lập Trại Lực Lượng Đặc Biệt Khâm Đức[4] (Trung tâm Huấn luyện biệt kích Mỹ toàn miền Nam) do Mỹ trực tiếp chỉ huy và huấn luyện.

          Cũng tại đây, Mỹ đưa những toán biệt kích, viễn thám xâm nhập vào Hạ Lào và vùng hậu cứ của ta. Khi chiến tranh lan rộng và gia tăng cường độ, chính quyền Sài Gòn cho thành lập Chi khu quân sự Khâm Đức và bố trí một lực lượng trấn giữ trên 1.400 quân, gồm: Toán A-105 Lực lượng Đặc biệt Hoa Kỳ[5] (LLĐB/HK), 7 đại đội Biệt kích Lôi Hổ (Lực lượng Đặc biệt Việt Nam) và nhiều đơn vị quân chủ lực và địa phương, có cả công binh, pháo binh, do các cố vấn Mỹ và Australia chỉ huy.

          Trước Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, cùng với Trại Lực lượng Đặc biệt Lang Vei bị quân ta tiêu diệt[6], Mỹ, ngụy nhận thấy nguy cơ cứ điểm Khâm Đức sẽ bị quân giải phóng tiến công. Vì vậy, giữa tháng 02 năm 1968, chúng gấp rút mở cứ điểm tiền tiêu Ngok-Ta-Vat, có cả sân bay trực thăng để cơ động, ứng cứu, bảo vệ Khâm Đức từ xa. Tại đây, địch bố trí 2 đại đội Dân sự Chiến đấu (Biệt kích Lôi Hổ) thuộc Lực lượng Đặc biệt Việt Nam, 01 đại đội chủ lực (thuộc Sư đoàn Bộ binh số 2 ngụy), 01 trung đội pháo binh Mỹ (quân số 33 tên), thuộc Pháo đội D, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 12 Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, do 8 cố vấn Mỹ và 3 cố vấn Australia trực tiếp chỉ huy. Đồng thời chúng gấp rút nâng cấp sân bay Khâm Đức để máy bay quân sự C130, C123 cất, hạ cánh an toàn.

          Tuy Cụm cứ điểm quân sự Khâm Đức - Ngok-Ta-Vat được xây dựng kiên cố và hỏa lực mạnh, nhưng là một cứ điểm cô lập nằm sâu trong vùng kiểm soát của ta, mọi hoạt động tiếp tế, hậu cần của chúng đều phụ thuộc vào đường không. Với thế bố trí quân như trên, cho thấy lực lượng chi viện cho chiến trường Khâm Đức chỉ có thể là Sư đoàn lính thủy đánh bộ American của Mỹ.

          2. Vị trí chiến lược của Khâm Đức và tình hình quân ta

          Với vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng của Khâm Đức trong vùng hậu cứ cách mạng của tỉnh Quảng Nam và cả khu 5, có hành lang chiến lược Bắc - Nam, Đông - Tây đi qua địa bàn, là cửa ngõ xuống đồng bằng, nơi đứng chân của nhiều đơn vị quân đội và cơ quan đầu não của Khu ủy 5... Vì vậy mệnh lệnh tiêu diệt Cụm cứ điểm quân sự Khâm Đức - Ngok-Ta-Vat, giải phóng Phước Sơn là mục tiêu hàng đầu để giải quyết vấn đề chiến trường trong chiến dịch Hè năm 1968 (Kế hoạch X1) của Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 5.

          Sư đoàn 2 (QK5) được giao nhiệm vụ phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân các dân tộc Phước Sơn thực hiện. Tư lệnh Quân khu yêu cầu: Việc kìm giữ không cho địch tiếp viện quân lên Khâm Đức, chủ động tiến công tiêu diệt địch là yếu tố quan trọng quyết định thắng lợi, đồng thời phải chuẩn bị tốt mọi mặt cho tuyến sau nhằm hạn chế thương vong cho bộ đội và nhân dân khi chúng tháo chạy sẽ liều lĩnh ném bom hủy diệt. Nhận mệnh lệnh của cấp trên, sau một thời gian trinh sát nắm bắt quy luật hoạt động của địch, Tư lệnh Quân khu đồng ý cho Sư đoàn 2 tổ chức một khu chiến mới tại Núi Ngang (Tiên Phước) do Trung đoàn 31 nổ súng tiến công trước khi khai hỏa trận đánh Khâm Đức từ 7 - 10 ngày, với mục đích là tiêu hao, tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh của chúng, thu hút, căng kéo, giam chân Sư đoàn lính thủy đánh bộ American của Mỹ, không cho chi viện lên chiến trường Khâm Đức và nếu có thì cũng không đáng kể.

          Đánh hơi được hoạt động quân sự của ta, quân địch ở Khâm Đức tăng cường phòng ngự, lùng sục bắn phá suốt ngày đêm và khắp mọi nơi trong vùng có bán kính từ 10 - 15 Km. Tuy quân ta vẫn giữ được yếu tố bí mật bất ngờ, nhưng việc tổ chức đánh chiếm một cứ điểm quân sự lớn, quân số đông, hỏa lực mạnh, có hệ thống đồn bót, công sự kiên cố là điều mới mẽ đối với lực lượng của ta. Để giành thế chủ động trên chiến trường, liên tục tiến công tiêu diệt địch, Đảng ủy Sư đoàn mở Hội nghị quyết định tiến công giải phóng Khâm Đức theo hai bước:

          Bước một: Trung đoàn I, phối hợp với lực lượng vũ trang huyện tiêu diệt cứ điểm tiền tiêu Ngok-Ta-Vat  và chặn đánh quân chi viện từ Khâm Đức lên.

          Bước hai: Trung đoàn 21, phối hợp với Bộ đội đặc công và quân giải phóng huyện tổ chức đánh bóc vỏ các cứ điểm ngoại vi, khống chế hoàn toàn sân bay Khâm Đức, cắt đứt mọi chi viện của chúng cho chiến trường và cùng với Trung đoàn I, tiếp tục phát triển tiến công tiêu diệt khu trung tâm, giải phóng Khâm Đức.

          III. DIỄN BIẾN VÀ KẾT QUẢ TRẬN ĐÁNH

          Sau thời gian chuẩn bị chiến trường, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 đã phê duyệt phương án tác chiến, chiều ngày 09 tháng 5 năm 1968, Tiểu đoàn 40 (Trung đoàn I, Sư đoàn 2, QK5) phối hợp với lực lượng vũ trang huyện nổ súng tấn công cứ điểm Ngok-Ta-vát. Sau tiếng pháo hiệu, các hướng, các mũi của quân ta đồng loạt đánh chiếm các mục tiêu và các ổ kháng cự ở vòng ngoài và trung tâm chỉ huy. Sau 8 phút đánh mật tập, quân ta đã làm chủ hoàn toàn trung tâm chỉ huy và trận địa pháo. Cùng lúc đó, hai mũi chính diện đã tiêu diệt gọn số quân địch ở vòng ngoài và tiếp tục đột phá vào bên trong. Chiến trận diễn ra vô cùng khốc liệt, bộ đội ta đeo bám từng chiến hào, tiêu diệt từng mục tiêu. Lực lượng vũ trang huyện vừa phối hợp tổ chức đánh địch tháo chạy, vừa chuyển thương, tải đạn phục vụ tuyến sau... Khoảng 8 giờ 30 phút, ngày 10 tháng 5, Không quân Mỹ ào ạc ném bom vào trận địa quân ta và đổ quân tăng viện xuống Phước Năng thì bị quân ta bắn rơi 2 máy bay CH47. Đến 15 giờ, ngày 10 tháng 5, quân ta làm chủ hoàn toàn Ngok-Ta-Vak, làm tan rã 02 đại đội biệt kích, 01 đại đội bộ binh, 01 trung đội pháo binh Mỹ, tiêu diệt và làm bị thương gần 200 tên, bắn rơi 2 máy bay, tịch thu 2 đại bác 105 ly, 01 khẩu pháo 106 ly và thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng.

          Thừa thắng xông lên, quân ta chuyển hướng tấn công Bước 2, Trung đoàn I nhanh chóng cơ động xuống Khâm Đức, phối hợp với Trung đoàn 21, Đại đội đặc công và quân giải phóng huyện tấn công Chi khu quân sự Khâm Đức. Mặc dù Sư đoàn Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ bị Trung đoàn 31, Sư đoàn 2 (QK5) kiềm chân ở Núi Ngang, nhưng chúng vẫn tăng viện Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn 196 lên chiến trường Khâm Đức, nâng số quân lên 1.400 tên. Ban Thường vụ Đảng ủy Sư đoàn theo dõi trận đánh và kết luận: Quân địch đang giao động mạnh, lực lượng phòng ngự của chúng suy yếu hoàn toàn; thế chủ động trên chiến trường hoàn toàn thuộc về ta. Tư lệnh Sư đoàn chỉ thị: Đẩy nhanh tốc độ tiến công tiêu diệt địch trên toàn chiến trường.

          Ngày 11 tháng 5, các mũi, các hướng quân ta thần tốc tiến công tiêu diệt các điểm ngoại vi và lần lượt san bằng các mục tiêu khu trung tâm. Du kích các xã và lực lượng thanh niên xung phong tiếp tục bám sát chiến trường phục vụ chiến đấu và triển khai chốt chặn sẵn sàng đánh địch khi chúng tháo chạy, bắt và áp giải tù binh, chuyển thương binh về tuyến sau...

          Đêm ngày 11 rạng sáng ngày 12 tháng 5, quân ta tiêu diệt toàn bộ các cứ điểm ngoại vi (D, E, H, I, K). Và ngay trong đêm hôm đó, các hỏa lực khác của sư đoàn đã nã pháo dữ dội vào sân bay Khâm Đức. Các mũi, các hướng nhanh chóng triển khai lực lượng chiếm lĩnh trận địa. Đến 6 giờ sáng ngày 12 tháng 5, thế trận bao vây của quân ta đã siết chặt, pháo cao xạ đã khóa chặt bầu trời, toàn bộ khu trung tâm bị quân ta bao vây không còn lối thoát. Quân Mỹ, ngụy hoảng hốt kêu cứu máy bay, pháo binh yểm trợ và dốc toàn bộ lực lượng chống trả hòng mở đường máu trốn thoát, nhưng quân ta đã khóa chặt các cửa ngõ ra vào Khâm Đức.

          Để giải cứu cho đội quân sắp bị tiêu diệt, Đại tướng Westmoreland ra lệnh di tản căn cứ Khâm Đức và cho Không quân ào ạc ném bom vào trận địa quân ta, dùng pháo đài bay B52 rải thảm từ khu rừng già 48 đến các dãy núi cao dọc đường 14, khe Cà Nang... Và biết không còn cứu vãn được Khâm Đức, Bộ Chỉ huy tác chiến Sư đoàn American ra lệnh cho Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn 196 quân Mỹ nhanh chóng rút lui, nhưng toàn bộ thung lũng Khâm Đức đang trong bão lửa, các ngã đường đều bị khóa chặt, sân bay bị khống chế. Mỹ, ngụy chỉ còn một cách duy nhất là dùng máy bay oanh tạc dữ dội vào trận địa của quân ta hòng mở đường trốn thoát. Lúc này quân ta vừa lo đánh trả máy bay, vừa nhích đội hình lên phía trước, đồng loạt tiến công dũng mãnh vào khu trung tâm và lợi dụng lúc khói bom mịt mù, số quân địch ở khu trung tâm rời bỏ trận địa xuyên rừng chạy trốn, số thì bị quân ta truy kích tiêu diệt, số thì bị máy bay B52 của Mỹ quyết định số phận...

          Kết quả sau 4 ngày đêm chiến đấu ngoan cường, đến trưa ngày 12 tháng 5, quân ta đã làm chủ hoàn toàn chiến trường Khâm Đức, làm tan rã 01 tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, 7 đại đội biệt kích Lôi Hổ (Lực lượng Đặc biệt Việt Nam), tiêu diệt trên 300 tên Mỹ, ngụy, làm bị thương hàng trăm tên, bắt sống 104 tên biệt kích và 01 Cố vấn Mỹ (chưa kể hàng trăm quân Mỹ, ngụy bị B52 quyết định số phận), bắn rơi 02 máy bay CH47, 02 máy bay C130 và 09 máy bay trực thăng chiến đấu, tịch thu toàn bộ vũ khí, khí tài, quân trang, quân dụng.

          IV. Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ

          Chiến thắng Khâm Đức - Ngok-Ta-Vat, giải phóng hoàn toàn huyện Phước Sơn là thắng lợi lớn nhất trên chiến trường miền núi Quảng Nam lúc bấy giờ. Đó là thắng lợi của sức mạnh tiến công tổng hợp của ba thứ quân và ba mũi giáp công, là trận đòn chí mạng vào quân Mỹ, ngụy, xóa sổ Trại Lực lượng Đặc biệt của Mỹ nằm sâu trong vùng giải phóng, đánh tan kế hoạch "tìm và diệt" trên chiến trường khu 5, góp phần làm phá sản chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ ở Việt Nam.

          Chiến thắng Khâm Đức - Ngok-Ta-Vat là chiến thắng của tư tưởng tấn công, đánh mạnh vào ngụy quân, ngụy quyền tay sai, tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân Mỹ, mở rộng vùng hậu cứ cách mạng, khai thông hành lang chiến lược Bắc - Nam và Đông - Tây, mở toan "cánh cửa thép" vào hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh, nối hậu phương lớn miền Bắc với Khu 4, Khu 5, Tây Nguyên, Hạ Lào đến các tỉnh miền Đông Nam Bộ, mở ra con đường vận tải cơ giới xuống vùng giáp ranh đồng bằng, tạo thời cơ để quân và dân ta đẩy mạnh chiến dịch Thu năm 1968 (Kế hoạch X2) trên toàn chiến trường khu 5 giành thắng lợi.

          Chiến thắng Khâm Đức - Ngok-Ta-Vat, không những chỉ làm nức lòng đồng bào, cán bộ, chiến sĩ các dân tộc huyện Phước Sơn mà còn cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của toàn tỉnh Quảng Nam và khu 5; động viên cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang và nhân dân khu 5 quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, bảo vệ vững chắc vùng tự do, góp phần cùng cả nước làm nên chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

          Ngược lại, trước thất bại thảm hại của quân Mỹ, ngụy trên chiến trường Khâm Đức - Ngok-Ta-Vat, các hãng thông tấn phương Tây chua chát thừa nhận rằng: "... Trận chiến Khâm Đức - Ngok-Ta-Vat là một Lang Vei thứ hai kinh hoàng của Lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ (LLĐB/HK) và Lực lượng đặc biệt Việt Nam cộng hòa (LLĐB/VN), làm tiêu tan sự huyền thoại và kiêu hảnh về một lực lượng tinh nhuệ được trang bị vũ khí hiện đại nhất...".

          Đài tiếng nói Hoa Kỳ (VOA) đưa tin: tổn thất trong cuộc di tản Trại Lực lượng đặc biệt Khâm Đức, ngày 12 tháng 5 năm 1968 có 259 dân sự chiến đấu Việt Nam cộng hòa tử trận và hơn 100 người khác tử nạn trong chiếc phi cơ C-130 bị Quân giải phóng bắn rơi, 25 quân nhân Hoa Kỳ tử trận, 2 trực thăng CH-47 Chinook (AC-475, 469), 2 trực thăng CH-46 của Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ (TQLC/HK), 2 vận tải cơ C-130 của Không Quân, 1 trực thăng UH-1 Lục Quân, và 1 máy bay quan sát O-2 bị bắn rơi và hàng trăm binh sĩ Đồng Minh mất tích. Đài VOA còn bình luận: "... mất Khâm Đức là mất mục tiêu thu thập tin tức tình báo hoạt động của Quân giải phóng trên đường mòn Hồ Chí Minh và cả kế hoạch xâm nhập vùng kiểm soát của đối phương (vùng hậu cứ cách mạng)".

          Hiện nay tại Cụm cứ điểm quân sự Khâm Đức năm xưa đã trở thành một thị trấn huyện lỵ với tốc độ đô thị hóa khá nhanh, dân số trên 6.000 người, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện. Để tưởng nhớ những người con ưu tú đã ngã xuống trong chiến dịch 12 tháng 5 năm 1968, giải phóng Khâm Đức - Phước Sơn, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong huyện đã xây dựng trên mõm đồi D (mật danh quân sự năm xưa) một Tượng đài chiến thắng Khâm Đức với bức phù điêu quân dân đoàn kết, quyết tâm diệt thù./.

                                                            BAN TUYÊN GIÁO HUYỆN ỦY



[1] Nay là đường Hồ Chí Minh.

[2] Quận Phước Sơn được thành lập trên cơ cơ nâng cấp đơn vị hành chính khu III do chính quyền Sài Gòn thành lập năm 1954, gồm vùng Sơn Mỹ (huyện Hiệp Đức ngày nay) và miền Phước Sơn (huyện Phước Sơn ngày nay).

[3] Sân bay Khâm Đức được đầu tư xây dựng với tổng kinh phí 30 triệu đồng, khởi công vào tháng 8 năm 1961 đến tháng 12 năm 1963 thì hoàn thành.

 

[4] Trại Lực lượng Đặc biệt Khâm Đức là một căn cứ thâu thập tin tức tình báo về các cuộc chuyển quân của Quân giải phóng trên hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh. Đơn vị Nghiên Cứu Quan Sát (SOG – NKT) cũng xử dụng Trại Lực lượng Đặc biệt này làm căn cứ hành quân tiền phương (FOB) cho những toán biệt kích xâm nhập vào đất Lào, do thám, đánh phá các binh trạm, cơ sở hậu cần, kỹ thuật của ta.

 

[5] Toán A-105 LLĐB/HK nhận bàn giao trại LLĐB Khâm Đức từ liên đoàn 7 LLĐB/HK. Trước khi liên đoàn 5 LLĐB Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam, một toán A LLĐB thuộc liên đoàn 1 LLĐB/HK đến lập căn cứ ở một đồn do binh sĩ Pháp để lại trong khu vực. Đoàn Nghiên Cứu Quan Sát (MACV-SOG, NKT/TTM) đến Khâm Đức lập một căn cứ hành quân tiền phương (FOB) cho các toán biệt kích SOG/Lôi Hổ xâm nhập vào khu vực miền Nam nước Lào, vì trại LLĐB Khâm Đức gần biên giới Lào-Việt. Sau đó, đơn vị MACV-SOG dời căn cứ hành quân tiền phương đi Hớn Quản (B-33) ngày 25/6/1965. Một toán A trong chương trình Gamma (B-57, tuyển mộ điệp viên nằm vùng) đến trại LLĐB Khâm Đức làm việc trong khoảng giữa năm 1967. Trại LLĐB Khâm Đức còn có một căn cứ hành quân tiền phương trên núi Ngok Tavak, căn cứ này bị quân giải phóng tiêu diệt một ngày trước khi Khâm Đức được giải phóng ngày 12/5/1968.

 

[6] Trại Lực lượng đặc biệt Lang Vei cách biên giới Lào - Khe Sanh, tỉnh Quảng Trị trên 70 Km do Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ trấn đóng. Tháng Giêng 1968, Trại Lực lượng đặc biệt Lang Vei do toán A-101 Lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ do Đại úy Frank Willoughby - Chỉ huy. Ngoài ra còn có thêm các quân nhân Lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ: Trung sĩ nhất William T. Craig - Thường vụ, Toán phó là Trung úy Mike Wilkins, Trung sĩ nhất - Y tá James Holt, Trung sĩ Kenneth Hanna - Chuyên viên vũ khí, Trung sĩ An ninh Peter Tiroch, Trung sĩ Truyền tin Emmanuel E. Phillips, Trung sĩ Arthur Brooks vũ khí, Trung sĩ y tá Nickloas Fragos, các binh sĩ truyền tin William G. McMurray, Franklin H Dooms và người mới gia nhập toán A-101 Lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ là Binh nhất Daniel R. Phillips - Chuyên viên chất nổ.

[Trở về]
Các tin mới hơn:
Đánh Ngot ta vat đòn quyết định thúc vào mạng sườn căn cứ quân sự ở Phước Sơn của Mỹ
45 NĂM CHIẾN THẮNG KHÂM ĐỨC - NGOKTAVAT (Trên quê hương Khâm Đức-Phước Sơn hôm nay)
45 NĂM CHIẾN THẮNG KHÂM ĐỨC - NGOKTAVAT Trận “Làng Vei thứ 2” kinh hoàng của Mỹ-ngụy
Kỷ niệm 45 năm chiến thắng Khâm Đức - Ngok TaVat
Hội thảo khoa học lần 2 về đề tài lịch sử LLVT
70 NĂM THÀNH LẬP CHÂU TRÀ MY (19/3/1947 – 19/3/2017) - Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÙNG HẬU CỨ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945 – 1954)
49 NĂM CHIẾN THẮNG KHÂM ĐỨC – NGOK TAVAK (12/5/1968 - 12/5/2017) – Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ
Các tin cũ hơn:
Phước Sơn là một huyện miền núi vùng cao
Phước Sơn tiềm năng phát triển du lịch đường Hồ Chí Minh
Thiên nhiên, Con người và truyền thống yêu nước